“VĂN MINH”

“VĂN MINH”
Đọc cái gọi là “bộ quy tắc ứng xử” của thành phố “ngàn năm văn vật” chỉ thấy nực cười, không phải vì một số quy định kỳ lạ mà là sự mỉa mai nằm trong bản chất sự việc. Cái cây văn hóa một thời bị đốn chặt không thương tiếc, đến mức cái gốc cũng thối ruỗng, giờ lại lượm lặt vài chiếc cành khô và trưng ra rồi gán cho nó là “văn hóa” và gọi đó là “những quy tắc ứng xử cơ bản”! Câu chuyện này khiến nhớ lại thời điểm Trung Quốc chuẩn bị Thế vận hội 2008, khi cả nước Trung Quốc giương cao khẩu hiệu “người người văn minh, nhà nhà văn minh”.
Hệt như mọi phong trào khác của đất nước cộng sản sống với “văn hóa tuyên truyền” và “văn hóa cổ động”, “sống văn minh” cũng được xây dựng thành “phong trào thi đua” để “đón chào Thế vận hội”. Không bạ đâu khạc đó, không vứt rác lung tung, không thụi cùi chỏ vào mặt nhau khi tranh cãi… là vài trong số “quy tắc ứng xử” được Trung Quốc phát động. “Giới chức văn hóa” gọi đó là sự “điều chỉnh “phần mềm” văn hóa công cộng”. Chiến dịch được thực hiện đồng bộ tại khắp thành phố lớn, từ các khóa dạy ngắn trên truyền hình, biểu ngữ tuyên truyền đến các cuộc “thi ứng xử” tại nhiều địa phương…
Các chương trình trò chuyện truyền hình, kịch, tiểu phẩm hài – tóm lại là nhiều hình thức phương tiện truyền thông – đều được tận dụng để dạy dân chúng sống lịch sự hơn, từ cách đi đứng-xếp hàng nơi công cộng đến việc dùng điện thoại. Nhiều đại học cũng tổ chức thi ứng xử; biểu ngữ tuyên truyền được dán khắp làng mạc; và bà con chòm xóm được khuyến khích tham gia cuộc thi “cộng đồng văn minh”.
“Ăn uống cho phải phép cũng là một vấn đề lớn” – theo giáo sư Ge Chenhong – “Dân Trung Quốc có thói quen húp xì xụp, không hề biết định nghĩa cái khăn lót là gì, nhổ xương toèn toẹt lên bàn hoặc xuống sàn. Cách đây 20 năm thì không sao nhưng bây giờ thấy kỳ lắm!”. “Ở đây, bạn có thể thấy những người mới hôm qua còn chưa có cái ăn mà hôm nay đã là triệu phú” – lời kể của June Yamada, hiệu trưởng một trường dạy nghi thức giao tiếp và ứng xử, tác giả quyển “Hãy nói như thế này, bạn nhé!” – “Họ có được ăn học đầy đủ hồi nào đâu nhưng họ có tiền. Vì vậy, họ vẫn tiếp tục quên đi tắm trong ba ngày”!
Trước đó, mùa hè 2005, chính quyền Bắc Kinh thực hiện “tháng giáo dục ứng xử trong công ty” trong khuôn khổ chiến dịch văn minh thực hiện toàn quốc. Hơn 100.000 công nhân phải tham gia khóa huấn luyện cách cười; vận vớ sạch khi đến công sở; vệ sinh cá nhân tươm tất… Tháng 5-2007, nhân viên “Phòng văn minh tinh thần Bắc Kinh” (có cả một cơ quan như thế!) túa ra đường phố để phát tờ rơi và kêu gọi bà con chấm dứt khạc nhổ bừa bãi. Trong 7 ngày, người ta phát 100.000 túi nhổ nhưng gần như rất ít người xài. Vào ngày 11 hàng tháng, nhân viên tuyên truyền văn hóa xuất hiện tại nhiều địa điểm công cộng, cầm cờ vẫy, kêu gọi mọi người… xếp hàng trật tự…
Thế nhưng rồi sao? Sau ngần ấy thời gian được “điều chỉnh phần mềm văn hóa”, người dân nói chung và du khách Trung Quốc nói riêng vẫn “nổi tiếng” với những hành vi kinh khủng của họ. Trung Quốc vẫn tiếp tục “khủng hoảng văn hóa” ở nhiều mặt. Reuters (27-12-2016) cho biết, Trung Quốc chuẩn bị thực hiện cái gọi là “cuộc cách mạng nhà vệ sinh” với dự án xây mới hoặc “cải tạo” 100.000 nhà vệ sinh công cộng. Những ai từng đi du lịch Trung Quốc hẳn có thể “cảm nhận” “sự khác biệt” của nhà vệ sinh công cộng nước này như thế nào (tôi là… một “nhân chứng”!).
Văn hóa không thể xây dựng từ những chiến dịch tuyên truyền, đặc biệt khi mà văn hóa đã bị đốn trốc gốc, khi nhận thức văn hóa đã bị uốn nắn lệch lạc. Không thể xây căn nhà khi mà cái móng đã mục rữa. Văn hóa là dựng người. Văn hóa không thể đến từ những “mô hình” mang tính hình thức như “khu phố văn hóa” hoặc “làng văn hóa”. Văn hóa cũng khó có thể trở thành một nếp sống đàng hoàng lâu dài, nếu nó được thực hiện như một cách “đối phó thời vụ” qua các chiến dịch “thi đua”; và khi “phản xạ có văn hóa” đã dần bị triệt tiêu. Để kiến tạo lại một nền văn hóa xuống dốc, điều cần làm là tìm hiểu nguyên nhân khiến nó suy đồi và sửa lại từ đó, chứ không phải tạo ra cái gọi là “bộ quy tắc ứng xử”. Điều đó cũng giống như tưới vài giọt nước cho một cái cây khô mục đã chết. Giáo dục và xây dựng căn bản đạo đức mới là những viên gạch cần thiết để dựng ngôi nhà văn hóa. Hơn nữa, “phần mềm văn hóa” không có giá trị gì nếu bản thân “hệ điều hành” không có văn hóa.

CHIếN TRANH VIệT NAM LUÔN CầN NHÌN LạI

CHIếN TRANH VIệT NAM LUÔN CầN NHÌN LạI
Đề tài cuộc chiến Việt Nam chưa bao giờ mất đi sự lôi cuốn tìm hiểu sự thật. Mỗi lần đọc lại tài liệu cũ hay quyển sách mới hoặc xem bộ phim mới về đề tài này đều có thể mang lại trực nghiệm khác nhau. Lịch sử hiện đại Việt Nam không có giai đoạn nào đáng được đào bới bằng những năm tháng chiến tranh. Nó là sự kiện và chuỗi sự kiện phủ chồng lên nhau nhiều tầng lớp mà mỗi tầng lại mang đến một ý nghĩa hoặc thậm chí một giá trị.
Như giáo sư Lê Xuân Khoa viết: “Ôn lại lịch sử là để “trả lại cho César cái gì của César”, tức là phục hồi sự thật… Kiểm điểm những sự việc đã qua không phải để khích động lại những mâu thuẫn và thù hận cũ, mà để nhận ra được những kinh nghiệm đau thương, những sai lầm cần phải tránh. Đáng chú ý là những sai lầm quan trọng thường được xuất phát từ phe có sức mạnh hoặc phe đã thắng… Không ai có thể thay đổi được quá khứ nhưng ai cũng có thể và cần phải vượt lên khỏi những sai lầm của quá khứ…” (“Việt Nam 1945-1990, Bốn cuộc chiến tranh và bài học lịch sử”, Lê Xuân Khoa, Người Việt Books 2016).
Đọc hoặc xem phim đề tài chiến tranh Việt Nam không chỉ là sự va chạm lại những câu hỏi cũ, rằng tại sao cuộc chiến huynh đệ tương tàn lại xảy ra, mà còn đưa đến những câu hỏi lớn hơn: rằng, bao nhiêu xương máu đồng bào đã đổ xuống để cuối cùng thì quê hương nhận được gì, rằng kết quả một “chiến thắng lịch sử” đã và đang dẫn dân tộc này đến đâu. Càng xem nhiều tài liệu chiến tranh Việt Nam, câu hỏi này càng ám ảnh. Nếu không trả lời được câu hỏi này thì tương lai đất nước vĩnh viễn bế tắc trong tuyệt vọng. Nếu không học từ lịch sử bằng cái nhìn khách quan và nhận biết sai lầm thì kết quả cuộc chiến vẫn giới hạn ở những tấm huân chương và xưng tụng vô nghĩa. Nếu không xây dựng được một đất nước thống nhất lòng người thì giá trị những hy sinh xương máu là vô ích. Nếu quê hương tiếp tục lặn ngụp trong đói nghèo thì “tinh thần giải phóng” chẳng khác gì những khẩu AK-47 sét gỉ qua năm tháng sau chiến tranh.
Chiến tranh Việt Nam là một đề tài khổng lồ. Nó chứa nhiều đề tài “nhỏ” mà mỗi đề tài đều đáng được nhìn lại bằng sự thật và chẳng gì hơn sự thật. Chỉ bằng sự thật và nhìn nhận sai lầm mới mang lại sự giải tỏa những gút mắc lịch sử để rút ra những kinh nghiệm nhằm tái thiết quê hương, trong đó có kinh nghiệm về bang giao và việc chọn thế đứng trong bang giao ấy, rằng bang giao ấy trong thời chiến được gắn kết với lợi ích gì và những lợi ích đó có còn cần sau khi chiến tranh kết thúc. Ở đây, nói thẳng ra, là bang giao với Trung Quốc.
Cần phân định lại sự ràng buộc lợi ích quốc gia vào thời chiến với lợi ích thời bình, và quan trọng hơn cần phải xem lại ý nghĩa của cái gọi là “tinh thần hữu nghị anh em”. Nếu không rút tỉa những bài học quan hệ từ thời chiến tranh và vẫn lệ thuộc “tinh thần hữu nghị anh em” bằng nhiều hình thức thì sự định đoạt số phận của chính dân tộc cũng sẽ tiếp tục nằm trong tay những kẻ ngoại bang thủ đoạn. Chẳng phải Mao đã mặc cả với Nixon để bán đứng Bắc Việt năm 1972 rồi chỉ hai năm sau Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa đó sao!
Có nhiều tài liệu mới về cuộc chiến Việt Nam. “Khi đồng minh nhảy vào” của giáo sư Nguyễn Tiến Hưng (2016), “Việt Nam 1945-1990, Bốn cuộc chiến tranh và bài học lịch sử” của giáo sư Lê Xuân Khoa, hoặc “Hanoi’s War” của giáo sư sử Lien-Hang T. Nguyen (có một bản dịch pdf quyển này có thể tải dễ dàng).
“The Vietnam War”, bộ phim tài liệu của hai đạo diễn Ken Burns và Lynn Novick thực hiện trong 6 năm với 10 tập (tổng cộng 18 tiếng), là một tư liệu nữa về đề tài này (dự kiến chiếu trên truyền hình PBS vào tháng 9-2017). Được miêu tả là thuật lại câu chuyện dưới góc nhìn “360 độ”, “The Vietnam War” có gần 100 nhân chứng, từ dân Mỹ phản chiến, cựu binh Mỹ, cựu binh VNCH, cựu binh Bắc Việt đến thường dân cả hai bên. “The Vietnam War” là một bộ phim nghẹt thở, không chỉ bởi không khí chiến tranh mà còn bởi nguồn tư liệu khổng lồ. Bộ phim còn làm nghẹt thở bởi sự thật mà nó phơi bày. Sự thật lịch sử luôn làm người ta nghẹt thở. Nếu trốn tránh và sợ hãi nghẹt thở, sự thật lịch sử sẽ không thể bước ra ánh sáng và mang lại sự đánh giá đúng mực để đưa đến những bài học nhằm kiến thiết tương lai.